Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2014

Bắt bệnh qua giọng nói của bạn

Những thay đổi về giọng nói dù nhiều hay ít đều phản ánh những vấn đề về sức khỏe. Thông thường khi bạn bị khản tiếng, mat tieng thì đều cho rằng đó là là biểu hiện của chứng cảm cúm thông thường nên dễ dàng được bỏ qua. Nhưng các bạn biết không đôi khi những thay đổi âm sắc đó lại là dấu hiệu của những vấn đề sức khỏe vô cùng nghiêm trọng đó.


Bắt bệnh qua giọng nói của bạn

Giọng khào khào, hoặc mất tiếng hoàn toàn, cảm thấy kho noi, thường là do viêm nhiễm vùng họng hoặc do phải nói quá nhiều.Những thay đổi trong âm vực – cao hoặc thấp – xảy ra khi có những thay đổi trong hình dạng của khoang giữa các dây thanh âm. Tuy nhiên, hình dạng của họng, mũi và miệng sẽ quyết định tính chất giọng nói của mỗi người.

1. Giọng ngàn ngạt: Viêm xoang mạn

Cảm lạnh, viem thanh quan có thể khiến giọng nói trở nên ngàn ngạt khi mũi bị tắc. Giọng nói “cảm lạnh” nghe giống như không có không khí đi qua mũi. Nếu không khí không thể đi qua mũi (do bệnh hay do thói quen) thì sẽ tạo ra giọng “cảm lạnh”. Điều này khiến cho tính chất giọng nói trở nên rất khác, vì âm sắc giọng nói của chúng ta được cộng hưởng trong mũi và xoang.

Giọng ngàn ngạt kéo dài có thể là hệ quả của viêm mũi xoang mạn tính do viêm nhiễm, dị ứng hoặc phản ứng miễn dịch với yếu tố nào đó trong môi trường.

Một số bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính sẽ tiến triển thành viêm xoang mạn tính trong đó các polyp (khối u lành tính) ở mũi gây bít tắc các xoang. Không thể chữa khỏi viêm xoang mạn tính, nhưng có thể dùng thuốc corticoid để làm giảm polyp. Đôi khi có thể phải mổ cắt những polyp này trong bệnh viện nếu thuốc không có tác dụng.

2. Giọng khào khào: Trào ngược a xít

Giọng nói khào khào vào buổi sáng có thể là đặc trưng của tình trạng ngái ngủ, nhưng đây cũng có thể là dấu hiệu rõ ràng của trào ngược a xít.


Hãy để ý đến sự thay đổi âm sắc của giọng nói bạn nhé

Sự di chuyển của axít từ dạ dày đi ngược lên thực quản có thể tới vùng hầu họng, thường được gọi là trào ngược thanh quản thực quản hay LPR.

Thanh quản bị a xít kích thích có thể khiến giọng bị khàn, vì các nếp gấp của dây thanh âm bị phù nề, khiến chúng không rung được như bình thường.
Giọng khào khào cũng có thể là triệu chứng của nhiều vấn đề khác. Mọi thay đổi về giọng nói đều là dấu hiệu báo động về cả bệnh lý lành tính và ung thư thanh quản.

Tuy nhiên có nhiều tổn thương và tình trạng bệnh lành tính cũng khiến giọng nói trở nên khào khào. Thậm chí kiểu giọng này còn được nhiều thanh thiếu niên ưa thích.

3. Giọng khàn: Ung thư thanh quản

Trong giai đoạn đầu của ung thư thanh quản, khối u ở vùng họng có thể khiến giọng nói bị thay đổi. Nguyên nhân là vì độ rung của dây thanh âm bị ảnh hưởng khi có những bất thường ở hầu họng, khiến tiếng nói trở nên khàn khàn.

Khối u lành tính chỉ chiếm khoảng 5% số khối u vùng thanh quản. Tuy nhiên, khàn giọng cũng có thể là do viêm thanh quản, thường sẽ nặng lên trong ngày khi bạn bị ốm, và có thể kéo dài tới 1 tuần sau khi đã hết các triệu chứng.

4. Giọng trầm/yếu: Bệnh tuyến giáp

Thay đổi trong giọng nói thường đồng nghĩa với điều gì đó không ổn ở tuyến giáp. Bệnh tuyến giáp có thể dẫn đến mất cân bằng hoóc môn, tác động xấu lên giọng nói. Hay gặp nhất là giọng trầm xuống.
Ở người lớn, nhược giáp – hệ quả của tiết không đủ hoóc môn tuyến giáp - có thể là do nhiều bất thường khác nhau và dẫn đến giọng trầm khàn.


Nắm bắt những thay đổi của giọng nói

Bệnh nhân bị bệnh tuyến giáp cũng có thể thấy giọng nói của mình bị yếu đi. Nếu tuyến giáp hoặc khối u ở tuyến giáp chèn ép vào dây thần kinh thanh quản, gây quặt ngược thì có thể dẫn đến liệt dây thanh âm. Cũng có thể xảy ra tình trạng khó thay đổi âm vực, phản ánh tổn thương dây thần kinh thanh quản trên.
Bệnh nhân ung thư tuyến giáp có thể bị tổn thương dây thần kinh, thường chỉ ở một bên, dẫn tới liệt một bên thanh quản, do đó chỉ còn một dây thanh âm cử động. Giọng nói sẽ trở thành thì thào như tiếng huýt gió.

5. Giọng yếu, đều đều: Bệnh Parkinson

Giọng nói với âm sắc nhỏ và cuối cùng trở thành đều đều đơn điệu có thể là dấu hiệu của bệnh Parkinson.
Khoảng 90% bệnh nhân Parkinson có sự thay đổi về giọng nói. Bệnh nhân Parkinson thường khó tự theo dõi và hay nghĩ rằng mình đã nói đủ to và đủ biểu cảm, nhưng khi thoát ra ngoài giọng nói hóa ra lại rất mờ nhạt và đơn điệu.

Hãy nhớ lắng nghe giọng nói của chính mình. Có thể nó đang cố gắng nói lên điều gì đó về sức khỏe của bạn.

Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014

Những sai lầm thường gặp khi uống thuốc

Uống thuốc đúng cách không khó nhưng không phải ai cũng biết và đôi khi biết nhưng lại chủ quan và không thực hiện theo. Ở nước ta tình trạng người bệnh, người bán thuốc tự kê đơn bốc thuốc không hề ít.


Những sai lầm thường gặp khi uống thuốc

Theo ghi nhận tại bệnh viện thì số ca cấp cứu, ngộ độc, tử vong, di ứng thuốc do dùng quá kiều, tự ý dùng thuốc mà không có chỉ dẫn của bác sĩ cũng không thiếu. Đặc biệt là đối với những bênh thường gặp như cảm cúm, ho, viêm họng dẫn đến mat tieng... thì việc tự ý dung thuốc của người bệnh lại càng nhiều. Dưới đây là những sai lầm thường mắc phải của đại đa số người bệnh khi sử dụng thuốc nhé:

Không đọc nhãn hiệu, hướng dẫn sử dụng của các loại thuốc không kê đơn

Rất nhiều người trong chúng ta tin rằng việc sử dụng các loại thuốc không kê đơn của bác sĩ sẽ không ảnh hưởng đến sức khỏe và ít tác dụng phụ nên không cần đọc nhãn hiệu cũng như hướng dẫn sử dụng của thuốc.Tuy nhiên đây là một ý nghĩ sai lầm bởi đa phần thuốc không cần đơn của bác sĩ (ví dụ thuốc giảm đau, cảm cúm...), uống quá nhiều thuốc đi ngoài hoặc thuốc kháng acid. Các chất thuốc khác nhau dễ gây phản ứng thuốc và dẫn đến nhiều hậu quả kho noi và ảnh hửng nghiêm trọng đến sức khỏe. Vì vậy hãy đọc kỹ hướng dẫn và tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng thuốc nhé.

Uống thuốc chặn đau bụng khi đau bụng kèm sốt


Không dùng thuốc giảm đau khi đau bụng và kèm sốt

Tâm lý cứ đau bụng là dùng thuốc giản đau bất chấp những triệu chứng kém theo là việc làm cực kì nguy hiểm. Ví dụ uống thuốc giảm đau bụng khi sốt là rất nguy hiểm bởi rất có thể bạn đang bị viêm hay một chứng bệnh nào khác, việc uống thuốc giảm đau lúc này sẽ khiến tình trạng trầm trọng hơn và khó nhận biết được nguyên nhân và cách điều trị. Bởi vậy khi đau bụng kém theo sốt thì bạn nên đến các cỏ sở y tế để được chuẩn đoán và điều trị nhé.

Đột nhiên dừng uống thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ

Đây là một sai lầm thường thấy của rất nhiều người khi sử dụng thuốc. Chưa có chỉ định của bác sĩ nhưng lại tự ý dừng uống thuốc vì cảm thấy các triệu trứng cả bệnh đã giảm. Việc tự ý dừng uống thuốc không những khiến bệnh điều trị không dứt điểm mà còn gây nhiều biến chứng nguy hiểm khác. Đặc biệt đối với bệnh nhân mắc các bệnh lý tuyến giáp, nếu không điều trị dứt điểm thì bệnh rất dễ tái phát, biến chứng, đặc biệt ở thời kì mang thai. Hay nếu đang uống thuốc chống lo âu một thời gian dài thì không nên đột ngột dừng uống. Tốt nhất nên thương lượng với bác sỹ, liệu có thể dần dần giảm bớt lượng thuốc uống cho đến lúc ngừng uống. Nếu không sẽ gây ra hôn mê hoặc các biến chứng nghiêm trọng. Vì vậy việc bạn nên làm là hãy tuân thủ việc dùng thuốc theo đúng chỉ định cảu bác sĩ.

Dạ dày không tốt còn uống thuốc an thần

Một cuộc điều tra lớn phát hiện, uống loại thuốc có chất Benzodiazepine theo đơn chỉ dẫn của bác sỹ (trấn tĩnh tinh thần, Alprazolam và triazolam vv) cho người mất ngủ, có nguy cơ nóng tim hơn người bình thường 50%.
Một nghiên cứu khác cho thấy những loại thuốc chống lo âu theo đơn này sẽ gây ra giãn cơ vòng thực quản dưới, gây trào ngược dạ dày thực quản và nóng tim.

Uống aspirin khi không có nguy cơ bị tim mạch

Không phải rất cả mọi người đều thích hợp uống aspirin hàng ngày, bởi vì loại thuốc này có thể gây ra xuất huyết dạ dày. Bác sỹ chỉ kiến nghị bệnh tim và người có nguy cơ đột quỵ cao mới uống. Bởi vậy đừng tự ý dùng thuốc, kê đơn cho mình nhé.

Một loại kháng sinh giải quyết tất cả mọi vấn đề


Thuốc kháng sinh rất nguy hiểm khi sử dụng không đúng cách

Trên thị trường thuốc hiện nay có rất nhiều loại kháng sinh với những đặc tính và công hiệu khác nhau. Bỏi vậy nếu dùng sai thuốc kháng sinh không những không có tác dụng mà còn sinh ra nhờn thuốc, công thuốc, phản ứng thuốc rất nguy hiểm. Nhiều ca cấp cứu sốc phản biện ở bệnh viện ghi nhận là do các bậc cha mẹ tự ý mua thuốc điều trị cho con khi con bị viêm họng, ho, viem thanh quan...dẫn đến tử vong. Bởi vậy không nên tự ý dùng thuốc và dùng thuốc tuân theo đủ thời gian khi dùng thuốc kháng sinh nhé.

Tự mình chẩn đoán nhiễm nấm

Rất nhiều phụ nữ khi xuất hiện ngứa ngáy ở ngoài âm đạo đều cho rằng mình đã viêm nhiễm vi khuẩn, đã bị nấm và tự mình dùng thuốc. Kết quả là ngứa vẫn không khỏi, ngược lại làm cho viêm âm đạo càng khó chữa trị. Một nghiên cứu phát hiện, trong những phụ nữ tự mình cảm thấy là bị viêm âm đạo thì chỉ có 1/3 trong số họ phán đoán chính xác. Vì vậy, nếu muốn chẩn đoán chính xác, nên không ngại xấu hổ và cần phải đi khám bác sỹ.

Lạm dụng thuốc trị bệnh tâm thần

“Tạp chí bệnh học tinh thần lâm sàng” vừa đăng tải một nghiên cứu phát hiện, đa phần những người uống thuốc trị bệnh tâm thần đều xuất hiện bệnh tâm thần nghiêm trọng như chứng tâm thần phân liệt. Tuy nhiên nếu chỉ có biểu hiện lo lắng và stress nhẹ thì có thể dùng các loại thuốc càng an toàn và có mức giá rẻ hơn để chữa trị, không nên uống thuốc trị tâm thần.

Tự dùng thuốc chữa eczema

Một nghiên cứu phát hiện, có khoảng 65% bố mẹ khi cho con cái dùng thuốc eczema thì 3 ngày sau đã cho dừng lại. Tuy nhiên nếu muốn trị được tận gốc bệnh này thì tốt nhất nên dùng thuốc theo liệu trình.

Theo Dân trí

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

Chữa bệnh đường hô hấp rất đơn giản bằng cách day huyệt

Bệnh hô hấp như viem thanh quan, viêm họng, viêm phổi, khàn tiếng...là những căn bệnh thường gặp đặc biệt là ở trẻ em và người già. Và cũng có nhiều phương pháp để phòng bệnh cũng như trị bệnh, dưới đây chúng tôi xin mách cách bạn một cách trị bệnh đường hô hấp bằng cách day huyệt hay còn gọi là xoa bóp "bổ phế ích khí" là phương pháp dùng hai bàn tay của chính mình xoa xát, day ấn vào các vùng, các huyệt vị thích hợp rất đươn giản và hiệu quả, bạn sẽ không còn lo lắng vì tình trạng đau rát họng, mat tieng, khản tiếng nữa nhé.



Chữa bệnh đường hô hấp rất đơn giản bằng cách day huyệt

Đông y cho rằng, phổi có chức năng tuyên phát vệ khí, thâu tinh ư bì mao, bảo vệ cơ biểu, phòng ngự ngoại tà xâm nhập. Phế khí đầy đủ, cơ biểu chắc chắn thì tà khí khó bề xâm nhập, có thể bảo vệ được sức khoẻ. Tự xoa bóp "bổ phế ích khí" là phương pháp dùng hai bàn tay của chính mình xoa xát, day ấn vào các vùng, các huyệt vị thích hợp trên cơ thể nhằm đạt mục đích phòng chống các bệnh về đường hô hấp, khan tieng trên...

Day các huyệt trên mặt: Nghinh xuân (nghinh hương), ấn đường, thái dương, phong trì trong 1 phút.

Cách làm: Dùng đầu hai ngón tay trỏ hoặc đầu hai ngón tay giữa, lần lượt day vào huyệt nghinh xuân ở hai bên sống mũi, làm cho có cảm giác tức mỏi tại chỗ là được. Dùng mặt có vân tay của một ngón tay cái áp vào giữa lông mày day ấn huyệt ấn đường. Dùng đầu hai ngón tay trỏ lần lượt day ấn vào hai huyệt thái dương ở hai chỗ hõm giữa đuôi lông mày và góc mắt ngoài lùi về phía sau khoảng một tấc. Dùng hai đầu ngón tay cái lần lượt day ấn vào huyệt phong trì ở hai bên sau gáy, khi day ấn hơi có cảm giác đau tức tại chỗ.

Nắm cổ 1 phút:

Dùng ngón cái và hai ngón trỏ, giữa nắm chặt lấy gân cổ (cơ tà phương), nắm từ trên xuống dưới, từ nhẹ đến mạnh khi nắm có cảm giác tức mỏi là được.

Đấm vào huyệt kiên tỉnh 20 lần: 

Ngồi hoặc đứng, nửa thân trên thẳng, một tay nắm lại thành quả đấm, đấm vào huyệt kiên tỉnh ở vai bên kia rồi đổi bên.

Day huyệt:

Dùng mặt có vân ở hai ngón tay cái xoa bóp một phút hai huyệt phong môn và phế du ở sau lưng. Dùng đầu ngón tay giữa day ấn một phút huyệt thiện trung. Dùng ngón cái và ngón trỏ đối xứng nhau bóp mạnh vào huyệt hợp cốc 1 phút, sao cho có cảm giác tức mỏi tại chỗ, tay phải và tay trái lần lượt thay đổi nhau mà làm. Dùng mặt có vân của ngón cái bấm 1 phút vào huyệt thận du, huyệt túc tam lý.

Day huyệt dũng tuyền 30 lần: Dùng một mặt bên của bàn tay "tiểu ngư tế" áp sát vào gan bàn chân, xát nhanh và mạnh vào huyệt dũng tuyền ở mé bên kia, xát cho tới khi nóng bừng lên, thay đổi vị trí ở hai chân mà xát.

Phương pháp này có tác dụng bổ ích phế thận, ích khí phòng phong, có tác dụng trị liệu rất tốt đối với các bệnh đau đầu, tắc mũi, xổ mũi, hắt hơi, ho do cảm cúm gây ra.

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014

Những sai lầm nghiêm trọng thường gặp khi bị cảm cúm

Cảm cúm là một trong những căn bệnh thường gặp đặc biệt là vào mùa hè và mùa đông. Cảm cúm với những triệu chứng dễ nhận biết như ho, hắt hơi, viêm họng, viem thanh quan, mất tiếng... khiến người bệnh cảm thấy khó chịu và ảnh hưởng đến hiệu quả công việc cũng như chế độ sinh hoạt của họ.


Những sai lầm nghiêm trọng thường gặp khi bị cảm cúm

Tuy nhiên phần nhiều trong số họ lại cho rằng cảm cúm có thể tự khỏi nên không uống thuốc hoặc có điều trị không dứt điểm hoặc mắc những sai làm không đáng có khi mắc bệnh. Dưới đây là một vài sai lầm nghiêm trọng của mọi người khi đối phó với bệnh cảm cúm  khiến tình trạng mệt mỏi, mat tieng, viem họng càng tệ hơn các bạn nhé.

Sai lầm 1: Đóng kín cửa, trùm đầu ngủ để toát mồ hôi 

Hầu hết mọi người đều cho rằng khi bị cảm cúm nếu cơ thể có thể ra mồ hôi được thì sẽ khỏi bệnh. Tuy nhiên đây chỉ là một ảo tưởng, bởi vì sau khi đổ mồ hôi cơ thể dường như nhẹ nhõm hơn, nhưng việc này không thể giúp chữa khỏi bệnh. Khi bị cảm ăn uống ít, thể chất yếu ớt, nếu đổ mồ hôi nhiều dễ gây mất nước và kiệt sức, dẫn tới sức đề kháng suy giảm, bệnh tình càng trầm trọng hơn.

 Sai lầm 2: Kiêng ăn các chất béo như trứng, sữa khi bị cảm


Chú ý bổ sung dinh dưỡng và nghỉ ngơi khi bị cảm cúm

Sau khi bị cảm, cơ thể sẽ mất cảm giác ngon miệng, các triệu chứng như chảy nước mũi, ho, sốt, đau rát họng dẫn đến kho noi, đều làm tăng sự tiêu hao năng lượng, nếu không tăng cường dinh dưỡng và nạp đủ năng lượng, bệnh càng lâu khỏi hơn. Tuy nhiên nhiều người lại lười ăn vì cảm thấy không muốn ăn. Do đó, sau khi bị cảm phải ăn nhiều thực phẩm dễ tiêu hóa, khẩu vị nên thanh đạm, tốt nhất nên nạp nhiều protein, vitamin và nguyên tố vi lượng như thịt nạc, các loại trứng, rau, hoa quả mới có thể giúp hồi phục sức khỏe nhanh chóng.

Sai lầm 3: Khi bị cảm cúm thông thường không cần phải chữa

Không có căn bệnh nào tự dưng mà khỏi hết. Cảm cúm cũng vậy, bạn không nên chủ quan với bệnh này. Với các triệu chứng như đau họng, nghẹt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, chảy nước mắt, sốt, ho, đau đầu, đau nhức cơ thể. Nếu không kịp thời điều trị và điều trị dứt điểm thì có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, hô hấp, viêm phế quản cấp, viêm phế quản mãn tính, viêm phổi, viêm cầu thận cấp tính, tai mũi họng, viêm tai giữa, viêm xoang, viêm họng… Bởi vậy hãy xóa bỏ ngay quan niệm sai lầm " Cảm cúm không cần chữa sẽ tự khỏi"

Sai lầm 4: Uống thuốc cảm càng nhiều, càng nhanh khỏi

Đa số mọi người đều có có quan điểm rằng, sau khi bị cảm sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc như kháng sinh, thuốc giảm đau hạ sốt, vitamin thì bệnh sẽ càng nhanh khỏi hơn. Nhưng đây là quan điểm sai lầm bởi vì đa số cảm cúm thông thường do virus cúm gây ra, thuốc kháng sinh không những không hề có tác dụng đối với virus, mà còn có thể gây ra phản ứng xấu do lạm dụng thuốc. Bởi vậy hãy chọn cho mình chế độ dinh dưỡng và nghỉ ngơi hợp lý bạn nhé. Hãy dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ nữa nhé.

Sai lầm 5: Cảm cúm chỉ là bệnh nhỏ, không cần nghỉ ngơi


Cần nghỉ ngơi đầy đủ khi bị cảm cúm

Khi cơ thể bị mệt mỏi, suy nhược do maats ngủ, ngủ ít, làm việc quá sức, bị cảm lạnh, khiến sức đề kháng giảm sút khi đó là cơ hội lớn cho vi khuẩn và virus bùng lên tấn công và xâm nhập vào cơ thể khiến bạn bị mắc bệnh. Đặc biệt là sau khi cảm cúm nếu không chú ý nghỉ ngơi, mầm bệnh rất dễ xâm nhập vào các bộ phận khác, gây nhiễm trùng cơ thể như viêm amidan mủ, viêm xoang có mủ, viêm phế quản do vi khuẩn gây ra, bệnh nhân cũng có chuyển sang bệnh nghiêm trọng hơn như viêm phổi, viêm cơ tim, viêm thận…Bởi vậy hãy thận trọng và biết giữ gìn sức khỏe của mình nhé.

Sai lầm 6: Khi điều trị cảm cúm có thể tùy ý sử dụng một loại thuốc cảm

Trên thực tế, thuốc cảm được bày bán tràn lan trên thị trường, hầu hết là các thành phần hợp chất và liều lượng không giống nhau, với các thành phần khác nhau thì điều trị các triệu chứng cảm khác nhau. Các triệu chứng cảm khác nhau nên lựa chọn một loại thuốc cảm tương ứng với các thành phần hoạt chất, chứ không nên tùy ý uống một loại, cũng đừng tùy ý tăng liều lượng và thời gian uống của thuốc cảm. Thuốc chữa cảm cúm đều chứa chất giảm đau hạ sốt, nếu uống lẫn các loại, có thể dẫn tới dùng thuốc quá liều.

Phương pháp chính xác khi điều trị cảm cúm

- Khi bị cảm cúm, phải uống nhiều nước, để đẩy nhanh sự bài tiết chất có hại ra ngoài cơ thể và kịp thời bổ sung lượng nước đã mất, có thể cải thiện tình trạng bệnh.
- Ăn nhiều hoa quả, tăng vitamin để nâng cao sức đề kháng.
- Những người bị cảm cúm vừa phải chú ý giữ ấm vừa phải chú ý lưu thông không khí trong phòng.
- Ngủ và nghỉ ngơi là phương pháp hiệu quả để khôi phục sức khỏe, rút ngắn thời gian chữa bệnh.

Các loại hoa quả " nên và không nên" ăn khi bị cảm cúm

Vào mùa hè với đặc trưng là những cơn nắng nóng gay gắt và những trận mưa rào bất chợt khiến thời tiết thay đổi liên tục kéo theo là không ít người già, trẻ em và thậm chí là những " nam thanh", " nữ tú" mắc chứng bệnh cảm cúm, đau đầu, mat tieng, khản tiếng...Dưới đây là những loại quả tránh chỉ định khi bạn bị cúm và một vài loại quả bạn nên ăn để bổ sung dinh dưỡng, tăng sức đề kháng để chông lại bệnh tật nhé.


Các loại hoa quả " nên và không nên" ăn khi bị cảm cúm

Các loại quả không nên ăn

Cà chua: 
Cà chua có tính hàn, tính nhiệt thay đổi, vì vậy những người thể chất yêu hay mắc bệnh cảm cúm, viêm họng, khan tieng, nên thận trọng khi sử dụng, có thể làm món canh trứng gà cà chua cũng rất tốt.

Lê: 
Lê có vị ngọt, tính mát, giúp thanh nhiệt, làm loãng đờm, giải rượu. Tuy nhiên khi bị cảm cúm không nên ăn sống; nhiều người lầm tưởng rằng ăn lê có công dụng dứt ho, bớt đờm, vì vậy họ mua rất nhiều lê, gọt vỏ rồi ăn luôn, điều này khiến đờm ngày càng nhiều, ho càng nặng hơn. Lê có tính hàn, người mắc bệnh cảm cúm, viem thanh quan ăn thực phẩm có tính hàn khiến ho ngày càng trầm trọng hơn, sau khi hầm lên mới có thể giải được tính hàn.

Cam, quýt: 
Cam, quýt có tính hàn, càng ăn càng ho nhiều hơn. Nếu khi bị cảm cúm muốn ăn cam, quýt, thì nên đun nóng cả quả rồi ăn.

Các loại hoa quả nên ăn. 

Dứa: Dứa chứa các loại Vitamin, và 16 loại khoáng chất tự nhiên mà cơ thể cần, ngoài ra còn có lợi cho quá trình tiêu hóa và hấp thu. Chất Albumi trong dứa không chỉ giúp người bị cảm cúm giảm được triệu chứng ho và đau rát họng, mà còn có tác dụng phân giải protein trong thực phẩm, tăng nhu động ruột, tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể.

Dưa hấu:

Dưa hấu rất tốt cho người mắc bệnh cảm cúm

Dưa hấu có tính hàn, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt. Mùa hè mắc bệnh cảm cúm, ăn dưa hấu giúp giải khát, giải nhiệt. Cuốn “Điền Nam bản thảo” viết rằng: dưa hấu có thể điều trị tất cả các bệnh nhiệt

Cây mía: 
Mía có tính hàn, vị ngọt, có tác dụng tốt cho họng. Khi bị cảm cúm, xuất hiện các triệu chứng đau rát họng, khô miệng, ho nhiều, ăn mía có thể giải nhiệt, dần làm giảm các triệu chứng trên.

Trái bưởi: 
Bưởi có tính hàn, vị ngọt, có nhiều chất dinh dưỡng như carotene, vitamin C, vitamin B1, vitamin B6, vitamin PP..., giúp tiêu đờm, dứt ho, lợi phổi. Tuy nhiên bưởi có tính hàn, vì vậy không nên ăn quá nhiều, ăn 2-3 múi bưởi có thể giảm các triệu chứng.

Táo: Cách làm thông thường là ngâm hỗn hợp mộc nhĩ trắng, cẩu kỷ tử và táo rồi uống, có tác dụng nhuận phổi, dứt ho. Ngoài ra có thể uống nước ép táo, giúp điều trị khàn giọng, chống ho.

Quả mã thầy: Cho dù ăn sống, luôc, hay rang đều có thể ăn, có thể ép lấy nước, đều giúp điều trị chứng đau rát cổ họng, có tác dụng bổ trợ nhất định trong điều trị ho, cảm cúm.


Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

Nguy cơ con kháng kháng sinh do mẹ tự ý dùng thuốc

Có một thực tế ở nước ta đó là việc các bậc phụ huynh thường tự ý kê thuốc cho con uống khi con mắc bệnh đặc biệt là các bệnh thường gặp như ho, viem thanh quan, viêm họng... mà không có chỉ định của bác sĩ. Hành động này cực kỳ nguy hiểm kể cả đối với trẻ nhỏ hay người lớn. 


Nguy cơ con kháng kháng sinh do mẹ tự ý dùng thuốc

Tại khoa Khám bệnh, Bệnh viện Nhi T.Ư ngày nào cũng tấp nập trẻ con được đưa tới khám. Bác sĩ thường hỏi bố mẹ, bệnh đã sử dụng thuốc gì trước khi đưa con tới viện chưa. Câu trả lời của không ít người là đã tự ý mua một loại thuốc kháng sinh điều trị vì con bị khan tieng, mất tiếng nhưng (không hiểu sao, tất nhiên!) không đỡ…thậm chí còn có nhiều ca gây tử vong do con bị sốc phản vệ.

Con có thể bị dị ứng, thậm chí sốc phản vệ gây tử vong

Chị Hoa ở Hà Nội đưa con đến viện khám cho biết cháu bé 2 tuổi rưỡi bị viêm họng. Mấy hôm trước, thấy con gái húng hắng ho, sổ mũi, mat tieng nghĩ con bị viêm họng nên chị ra hàng thuốc gần nhà mua một liều thuốc kháng sinh cho con uống. Chị Hoa. cho biết cũng nhiều lần con ốm, sốt chị tự ý mua thuốc từ kháng viêm, kháng sinh đến thuốc long đờm, giảm ho cho bé uống và bệnh bé đều đỡ. Thế nhưng lần này đã qua gần 1 tuần uống thuốc mà bệnh chưa có dấu hiệu đỡ, bé lại nổi mẩn sau khi uống thuốc được 2 ngày nên phải đưa con đi khám tại viện. Đến nơi chị mới tá hỏa là con đã bị dị ứng thuốc kháng sinh.

Thông tin quan trọng các mẹ cần biết khi cho con dùng kháng sinh:

- 70% bệnh nhân dị ứng do dùng kháng sinh, trong đó có không ít trẻ em. Thống kê tại khoa Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng (Bệnh viện Bạch Mai) cho thấy,

- Nhiều trường hợp dị ứng thuốc gây giảm hồng cầu, bạch cầu, thiếu máu huyết tán, xuất huyết giảm tiểu cầu, tổn thương tế bào gan…

- Những loại kháng sinh như Penicilline, Chloramphenicol, Streptomycine có thể gây điếc, nghiêm trọng hơn là gây sốc phản vệ dẫn đến tử vong.

- Nếu sử dụng bừa bãi, chúng dễ gây suy tuỷ, ngộ độc hoặc gây ra hội chứng xanh tái ở trẻ sơ sinh. Trẻ sử dụng nhiều kháng sinh còn có nguy cơ mắc hen cao hơn 16% so với trẻ khác.

Nguy hiểm, kháng sinh không đúng bệnh, đúng liều


Không nên tự ý dùng thuốc khi không có chỉ định của bác sĩ

 Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Nhi T.Ư cho biết, trẻ em Việt Nam thường bị viêm đường hô hấp và được bác sĩ kê đơn kháng sinh. Do đường uống hiện không còn mấy hiệu quả nên nhiều trẻ phải tiêm. Khi trẻ dùng kháng sinh quá nhiều và không đúng liều lượng sẽ dẫn đến việc trẻ bị nhờn thuốc, lúc đó nếu tiếp tục dùng kháng sinh trị bệnh thì chẳng những không có hiệu quả mà còn gia tăng sức công phá của vi khuẩn gây các bệnh khác.
Không phải cứ gắn với từ "viêm" là dùng kháng sinh điều trị! Bởi nếu cảm cúm do virus gây ra, kháng sinh không có tác dụng chữa trị. Nếu trẻ bị viêm mũi, viêm hầu họng nhưng là do virus và chưa có biến chứng thì kháng sinh chẳng những không hiệu quả mà còn gây kháng thuốc về sau. Chỉ có bác sĩ mới xác định được nguyên nhân gây bệnh là virus hay vi khuẩn.

PGS. TS Nguyễn Văn Đoàn, Giám đốc Trung tâm Dị ứng miễn dịch lâm sàng (Bệnh viện Bạch Mai) cho biết thêm, lạm dụng thuốc kháng sinh ở người dân thể hiện ở thói quen mua kháng sinh về tự điều trị không cần đơn của thầy thuốc, dùng kháng sinh không đúng bệnh, không đúng liều, không đủ thời gian, tùy tiện… lạm dụng kháng sinh cũng phổ biến ở trong các bệnh viện, cán bộ, nhân viên y tế. Thêm vào đó tại các quầy thuốc, thuốc kháng sinh được bán bừa bãi, tự do mà không cần có đơn thuốc của bác sĩ. Thậm chí nhiều quầy thuốc còn kiêm luôn cả vai trò kê đơn cho bệnh nhân. Đấy là còn chưa kể, không ít thầy thuốc cũng lạm dụng kê đơn thuốc kháng sinh cho người bệnh.

Điều gì đang đợi con bạn ở kỷ nguyên hậu kháng sinh?

Có một nghịch lý đang tồn tại là các bệnh không lây nhiễm cần sử dụng kháng sinh đang có xu hướng giảm dần, hiện chỉ chiếm 1/4 trong tổng số bệnh tật ở Việt Nam, nhưng chi phí sử dụng thuốc kháng sinh trong cộng đồng lại có xu hướng tăng lên.

Nguyên nhân không gì khác ngoài tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh ngày càng phổ biến, dẫn đến rất nhiều chi phí phát sinh khác cho việc điều trị kháng kháng sinh.

Thống kê mới đây về chi phí sử dụng tiền thuốc cho thấy, tiền thuốc kháng sinh của 661 bệnh viện trên cả nước chiếm đến 56% tổng tiền thuốc.

Kể từ khi thế giới tìm ra thuốc kháng sinh thì loại thuốc này được coi như là vũ khí, quan trọng nhất để đối phó với các bệnh không lây nhiễm và bệnh nguy hiểm do vi khuẩn gây ra. Tuy nhiên, việc quá lạm dụng loại vũ khí tối thượng này lại khiến thế giới đang đứng trước nguy cơ bị mất dần các loại thuốc điều trị.


Dùng thuốc bừa bãi sẽ dẫ đến nhờn thuốc

Chính vì thế TS. Graham Harrison, Quyền Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam từng phát biểu: “Kho vũ khí điều trị của chúng ta đang co hẹp dần. Kỷ nguyên hậu kháng sinh sẽ chứng kiến sự hồi sinh của các bệnh nhiễm trùng chết người”.

- Khi đã kháng thuốc nên cho bác sĩ biết để dùng thuốc cho thích hợp

- Không tiết kiệm thuốc để dùng cho lần tiếp theo, thuốc thừa nên loại bỏ.

- Dùng thuốc kháng sinh đúng theo đơn bác sĩ, không bỏ liều khi thấy đỡ bệnh, nếu dừng lại sẽ làm cho khuẩn kháng thuốc.

- Không dùng kháng sinh của người khác. Uống thuốc không đúng có thể làm tăng bệnh và làm cho khuẩn gây bệnh sinh sôi nảy nở.

- Nếu bác sĩ khuyên không nên dùng thuốc kháng sinh thì không nên ép bác sĩ kê đơn dùng loại thuốc này.

Cảnh giác Viêm cầu thận cấp sau Viêm họng

Theo thống kê thì ơ Việt Nam hàng năm có khoảng 40% viêm cầu thận xảy ra sau khi bị nhiễm khuẩn đường hô hấp như : viem thanh quan, viêm họng...và 60% viêm cầu thận cấp sau nhiễm khuẩn ngoài da do liên cầu. 


Cảnh giác Viêm cầu thận cấp sau Viêm họng

Viêm cầu thận cấp tính là tình trạng viêm lan tỏa không nung mủ tất cả cầu thận của hai thận. Bệnh xuất hiện sau viêm họng dẫn đến mat tieng  hoặc sau nhiễm khuẩn ngoài da do liên cầu tan máu beta nhóm A, xảy ra sau nhiễm liên cầu 10-15 ngày. Ngoài liên cầu khuẩn, viêm cầu thận cấp có thể do tụ cầu, phế cầu và virus gây ra, nhưng rất hiếm gặp.

Tuy nhiên khá khó khăn trong việc xác định viêm cầu thận cấp vì bệnh thường diễn tiến một cách thầm lặng, kín đáo, người bệnh không biết mình bị bệnh, không có triệu chứng lâm sàng, chỉ có hồng cầu niệu vi thể và protein niệu phát hiện khi đến kiểm tra máu, nước tiểu tại cơ sở y tế

Bệnh cũng có thể phát triển hết sức rầm rộ, với một số triệu chứng chủ yếu như:

Phù

Phù rất thường gặp, là dấu hiệu lâm sàng đầu tiên mà người bệnh cảm nhận được. Người bệnh có cảm giác nặng mặt, nề hai mí mắt, phù hai chân. Phù trước xương chày chạy quanh mắt cá, phù mềm, ấn lõm rõ. Diễn biến của bệnh rất kho noi. Thường phù nhiều về sáng, chiều giảm phù, gây nên cảm giác khỏi giả tạo, số lượng nước tiểu ít và sẫm màu, phù càng nhiều thì số lượng nước tiểu càng ít.

Phù thường gặp trong 10 ngày đầu và giảm đi nhanh chóng khi người bệnh tiểu nhiều. Tiểu nhiều là sự mở đầu của sự hồi phục về lâm sàng: phù giảm, huyết áp giảm, người bệnh có cảm giác dễ chịu, nhẹ nhõm, ăn ngon.

Tiểu ra máu đại thể

Tiểu ra máu toàn bãi, nước tiểu có màu đỏ, không đông, mỗi ngày đi tiểu ra máu toàn bãi 1-2 lần, không thường xuyên, xuất hiện trong tuần đầu, nhưng có thể xuất hiện trở lại trong 2-3 tuần. Số lần tiểu ra máu thưa dần, 3-4 ngày bị một lần rồi hết hẳn.

Tiểu ra máu trong viêm cầu thận cấp tính không ảnh hưởng đến tình trạng chung của cơ thể. Tiểu ra máu là một dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán viêm cầu thận cấp tính, nếu không có tiểu máu cần xem lại chẩn đoán.

Tăng huyết áp


Viêm cầu thận cấp gây nhiều biến chứng nguy hiểm

Tăng huyết áp là triệu chứng lâm sàng thường gặp. Tăng huyết áp dao dộng ở trẻ em 140/90 mmHg, ở người lớn 160/90 mmHg. Một số trường hợp tăng huyết áp kịch phát và tương đối hằng định kéo dài trong nhiều ngày với huyết áp khoảng 180/100 mmHg, người bệnh có cảm giác đau đầu dữ dội, choáng váng, co giật, hôn mê do phù não dẫn đến tử vong.

Suy tim

Suy tim thường kèm với tăng huyết áp kịch phát, do tăng khối lượng tuần hoàn đột ngột và cũng có thể do bệnh lý cơ tim trong viêm cầu thận cấp tính. Suy tim cấp tính với biểu hiện khó thở, không nằm được và có thể dẫn đến phù phổi: người bệnh khó thở dữ dội, toát mồ hôi, thở nhanh và nông, co rút hố trên ức, hố trên đòn, co rút khoang gian sườn; ho và khạc ra bọt màu hồng. Nếu không được cấp cứu kịp thời thì người bệnh sẽ tử vong.

Hiện nay tình trạng tăng huyết áp dẫn đến co giật, hôn mê, suy tim cấp tính, phù phổi ngày một ít dần do điều kiện phục vụ y tế tốt hơn và người bệnh thường đến khám tại các cơ sở y tế và được phát hiện, điều trị kịp thời.

Tiểu ít (thiểu niệu, vô niệu)

Tình trạng thiểu niệu bao giờ cũng có, khối lượng nước tiểu dưới 500 ml/ngày, thường gặp trong tuần đầu của bệnh và kéo dài trong 3-4 ngày, không có tăng ure và creatinin máu hoặc là tăng không đáng kể. Tình trạng thiểu niệu có thể tái phát trở lại trong 2-3 tuần đầu. Một số trường hợp xuất hiện suy thận cấp tính, thiểu niệu, vô niệu kéo dài tăng ure, creatinin máu. Nếu suy thận cấp tái diễn nhiều đợt là một dấu hiệu xấu, nguy cơ có thể dẫn đến viêm cầu thận tiến triển nhanh, viêm cầu thận mạn…

Một số triệu chứng khác:

- Sốt nhẹ 37,5-38,5 độ C.

- Đau tức vùng thận, có thể có cơn đau quặn thận.

- Đau bụng, bụng chướng nhẹ, buồn nôn, đi lỏng, không ít trường hợp viêm cầu thận cấp mở đầu bằng cơn đau bụng cấp tính.

- Biến đổi nước tiểu: Nước tiểu màu vàng, số lượng ít, có protein niệu (đạm trong nước tiểu). Thời gian tồn tại của đạm có ý nghĩa tiên lượng của bệnh và là yếu tố quan trọng để đánh giá kết quả điều trị.

Theo bác sĩ Tạ Phương Dung, tuy lâm sàng biểu hiện trầm trọng nhưng đại bộ phận người bệnh có thể hồi phục hoàn toàn, tỷ lệ hồi phục đạt 95%. Khi protein niệu kéo dài trên 6 tháng, bệnh không còn khả năng tự phục hồi, viêm cầu thận cấp tính trở thành viêm cầu thận mạn tính với những hậu quả nguy hiểm.

Một số lưu ý để phòng ngừa bệnh:

- Vệ sinh trong ăn uống, sinh hoạt.

- Tránh tiếp xúc với người bệnh hoặc người nghi ngờ mắc bệnh viêm cầu thận.

- Khi có biểu hiện của nhiễm trùng hô hấp, nhiễm trùng da hay các biểu hiện của viêm cầu thận nên tới các cơ sở y tế khám, đặc biệt cần nghỉ ngơi, cách ly theo hướng dẫn của cán bộ y tế.

- Người viêm cầu thận cấp cần hạn chế ăn muối, khi có suy thận cần chế độ ăn giảm đạm, kali và nghỉ ngơi tuyệt đối khi có tăng huyết áp.

Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2014

Cắt Amidan khi nào và có thể khỏi viêm họng nếu cắt Amidan không?

Có nhiều người khi bị viêm họng thường bị sưng amidan dẫn đến đau, viêm amidan, thậm chí người bệnh có thể cảm giác kho noi do đau. Viêm Amidan là một trong số những bệnh về tai - mũi - họng ở trẻ em va người lớn. Khi bị viêm Amidan hầu hết mọi người thường nghĩ đến cắt amidan, tuy nhiên không phải lúc nào biện pháp này cũng là biện pháp hay. Vậy, những trường hợp nào thì cần cắt amidan? và cắt amidan có khỏi được viêm họng, viem thanh quan hay không? Chúng ta cùng tìm hiểu câu trả lời trong bài viết dưới đây nhé!!!

1. Amidan và những trường hợp nào cần cắt Amidan


 Amidan và những trường hợp nào cần cắt Amidan

Amidan (Amygdale) là các tổ chức bạch huyết nằm ở xung quanh vùng mũi họng. Các tổ chức này bao gồm: amidan vòm, amidan vòi, amidan khẩu cái, amidan lưỡi, amidan ở thành sau họng. Các tổ chức này phát triển ở mỗi độ tuổi khác nhau. Ở trẻ em, amidan vòm (VA) tăng mạnh. Ở tuổi thanh thiếu niên, amidan khẩu cái (A) phát triển mạnh, sau đó giảm dần ở người trưởng thành và teo đi ở tuổi già. Amidan có vai trò rất quan trọng vì là nơi sản xuất ra kháng thể IgG rất cần thiết trong miễn dịch, và là hàng rào miễn dịch giúp ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn từ ngoài vào cơ thể.
Viêm amidan có thể gặp viêm cấp, viêm cấp tái phát, viêm mạn, viêm tấy hoặc áp xe quanh Amidan. Các biến chứng khác thường gặp là viêm nhiễm các tổ chức kế cận như viêm xoang, viêm họng, áp xe amidan.
Viêm amidan cấp có biểu hiện: sốt cao, rét run, đau họng dẫn đến mat tieng, ăn uống khó, hôi miệng, sưng hạch góc hàm, hạch cổ, đau nhức cơ …,thường do vi khuẩn, chủ yếu là liên cầu Beta tan huyết nhóm A, có thể gây biến chứng thấp tim và bệnh lý cầu thận.
Viêm amidan mạn có biểu hiện: viêm nhiễm dai dẳng, không rõ ràng, thỉnh thoảng có đợt viêm cấp. Các triệu chứng hay gặp là nuốt vướng, đau tai, nổi hạch cổ, hôi miệng do mủ amidan, khạc đờm giống bã đậu, amidan có thể to hoặc teo nhỏ, bề mặt có nhiều chấm trắng gọi là micro áp xe.

Điều trị viêm amidan

- Điều trị nội khoa: chủ yếu với viêm cấp. Bệnh nhân cần được nghỉ ngơi, ăn uống nhẹ nhàng, có thể dùng thuốc hạ sốt giảm đau hoặc kháng sinh khi có biểu hiện nhiễm khuẩn nặng, chăm sóc vệ sinh vùng hầu họng, mũi, tai phòng biến chứng.
- Điều trị ngoại cắt amidan: chủ yếu với viêm amidan mạn. Có nhiều quan điểm khác nhau về việc có nên cắt amidan hay không. Có quan điểm nói amidan chính là tổ chức miễn dịch bảo vệ cơ thể, không nên cắt mà nên bảo tồn tối đa có thể. Quan điểm khác lại cho rằng khi tổ chức này bị viêm, tạo thành một ổ chứa vi khuẩn gây bệnh, không điều trị dứt điểm sẽ có tác hại nặng nề cho cơ thể. Trên thực tế, tùy theo từng trường hợp bệnh nhân cụ thể mà có chỉ định cắt hay không cắt amidan. Khi nói cắt amidan tức là cắt amidan khẩu cái nằm ở 2 bên thành họng, ngay chỗ màn hầu.

Chỉ định cắt amidan cho những trường hợp sau:


 Cắt amidan trong những trường hợp nào

- Viêm amidan mạn tính có ít nhất 4 lần tái phát trong 1 năm hoặc 7 lần trong 2 năm hoặc viêm mạn tính mà điều trị nội khoa trong 4-6 tuần không đỡ.
- Áp xe amidan đã có ít nhất 1 lần phải vào viện điều trị.
- Amidan sưng to 1 bên kèm hạch cổ 1 bên to nghi ngờ ung thư amidan.
- Amidan có biến chứng vào khớp, thận, tim, viêm xoang…
- Amidan quá to gây cơn ngừng thở, khó khăn trong phát âm, ăn uống…
Để đảm bảo sức khỏe, tránh những biến chứng có một số trường hợp phải trì hoãn cắt amidan như: đang có bệnh lý nhiễm khuẩn, đang sống ở vùng dịch, phụ nữ có thai, trong chu kỳ kinh nguyệt…
Chống chỉ định cắt amidan trong các trường hợp:
- Bệnh lý rối loạn đông cầm máu, ung thư, HIV/AIDS…
- Bệnh mạn tính: Hen, suy tim, đái tháo đường.
Trẻ dưới 5 tuổi và người lớn trên 45 tuổi nên hạn chế cắt amidan, bởi trẻ dưới 5 tuổi cắt amidan có thể ảnh hưởng khả năng miễn dịch, còn người trên 45 tuổi cắt amidan dễ bị chảy máu do amidan xơ dính hoặc có các bệnh khác kèm theo như tăng huyết áp, tim mạch, tiểu đường...dễ gây ra các biến chứng.
Hiện nay có nhiều phương pháp cắt amidan, mỗi phương pháp có những ưu- nhược điểm riêng. Tùy điều kiện, trình độ, kinh nghiệm mà thầy thuốc lựa chọn phương pháp cắt amidan phù hợp.

2. Cắt Amidan có khỏi viêm họng không?

Nhiều người bị viêm họng thường sưng amidan. Nhưng không phải hễ viêm họng là sưng amidan. Chẳng hạn các trường hợp viêm họng mà không có sưng amidan như: viêm họng do cảm lạnh, do dị ứng với thời tiết, viêm họng trong bệnh cúm. Amidan là tổ chức lympho ở vùng hầu họng, nằm ở hai bên lưỡi gà. Người ta cắt amidan trong các trường hợp: bị viêm amidan nhiều lần hay tái phát, amidan quá to ảnh hưởng đến thở và nuốt, amidan là ổ nhiễm khuẩn. Viêm họng là do nhiễm khuẩn bởi các loại vi khuẩn thường gặp như: liên cầu, tụ cầu, nấm… không liên quan đến tuyến amidan.
Nên dù có cắt amidan hay không thì bệnh viêm họng vẫn có thể xảy ra. Việc điều trị viêm họng do nhiễm khuẩn cần dùng kháng sinh thích hợp, kết hợp các thuốc chữa triệu chứng như thuốc hạ nhiệt giảm đau chống viêm, thuốc ho, thuốc giảm tiết đờm, mà không cần phải cắt amidan. Do đó lần sau con bạn bị viêm họng, bạn nên đưa cháu đi khám ở bệnh viện để được chẩn đoán và điều trị đúng. Nếu cần cắt amidan thì bác sĩ sẽ chỉ định cắt cho cháu. Hiện nay đã sang mùa đông, bạn cần cho con mặc ấm và luôn giữ ấm vùng cổ để tránh bị viêm họng.

Phân biệt ho do viêm họng và ho do viêm phế quản ở trẻ em

Trẻ em là những đối tượng rất dễ mắc các bệnh về đường hô hấp như: viem thanh quan, viêm phế quản, viêm họng...bởi các sức đề kháng cũng như hệ miễn dịch và khả năng tự bảo vệ của các em còn kém. Khi đó cha mẹ là những người bảo vệ và giúp các em chống lại bệnh tật.


Phân biệt ho do viêm họng và ho do viêm phế quản ở trẻ em

Tuy nhiên một sai lầm của các bậc cha mẹ hiện nay là cứ thấy con có biểu hiện bị ho, mat tieng là các mẹ nghĩ ngay tới bệnh viêm họng mà không để ý kĩ xem con mắc bệnh gì. Thực chất ho do viêm họng và ho do viêm tiểu phế quản là 2 triệu chứng hoàn toàn khác nhau, nếu để ý một chút về tiến ho của con mẹ sẽ dễ dàng phát hiện con mình đang bị mắc bệnh gì. Dưới đây là xin mách các mẹ cách phân biệt viêm họng và viêm phế quản để các mẹ có cách điều trị hợp lý khi con bị nhiễm bệnh nhé.

Hãy để ý tiếng ho của con

Các mẹ chú ý, khi con có dấu hiệu ho, mẹ cần phân biệt con bị ho do viêm họng hay do viêm phế quản,để làm được điều này chúng ta chỉ cần chú ý đến tiếng ho của con, các triệu chứng khi con bị ho mới đi đến kết luận con bị ho do nguyên nhân gì?


Chăm sóc con đúng cách để con phát triển trí lực và thể lực

Nếu con bị viêm họng triệu chứng đầu tiên sẽ là ngứa cổ, rát họng, vướng đờm ở cổ, khi nuốt thì thường đau ở amidan, ho liên tục cho cho đến khi khạc được cục đờm thì mới thôi. Khi khám họng sẽ thấy niêm mạc bị sưng huyết đỏ, nổi gân máu hay có hạt thành say họng, có dich nhầy hoặc mủ chảy xuống thành sau họng. Đó là những triệu chứng của ho khi bị viêm họng.
Còn ở bênh viêm phế quản thường con sẽ ho thành từng cơn, ho nặng ngực có khò khè, đôi khi thở mệt thiếu hơi, khan tieng, khạc ra đờm cục trong vàng hay xanh. Khám phổi nghe thấy tiếng lọc sọc gọi là rales phế quản, hay nghe có tiếng rít. Chụp X Quang phổi chẩn đoán xác định hơn
Dù là ho do viêm họng hay ho do viêm phế quản đều nguy hiểm tới sức khỏe của bé. Vì vậy khi con có dấu hiệu bị bệnh mẹ cần tìm hiểu kỹ để có thể có thể phòng và điều trị cho con tốt nhất

Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014

4 Thông tin cần thiết bạn nên biết về viêm họng

Có thể nói viêm họng, viem thanh quan  là bệnh thường gặp và khá phổ biến ở mọi độ tuổi. Viêm họng mặc dù không phải là một bệnh nguy hiểm song gây cho người bệnh cảm giác khó chịu, đau rát họng, mat tieng, khản tiếng... ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như hiệu quả công việc của người bệnh. Tuy nhiên nếu không điều trị bệnh dứt điểm thì có thể gậy nhiều biến chứng khó lường. Dưới đây là những thông tin cần thiết bạn nên biết về viêm họng để có cách xử lý kịp thời và hiệu quả cho mình và người thân khi mắc bệnh nhé.

1. Viêm họng là bệnh như thế nào?


4 Thông tin cần thiết bạn nên biết về viêm họng

Viêm họng là tình trạng viêm cấp niêm mạc hầu. Có 3 loại viêm họng: viêm họng trắng, viêm họng đỏ và viêm họng loét (rất hiếm gặp). Trong tất cả các trường hợp, người bệnh đều cảm thấy đau rát họng, gặp khó khăn khi nuốt, sốt và thường xuyên nhức đầu. Ngoài ra, viêm họng còn đi kèm với một vài triệu chứng như cảm lạnh, buồn nôn, đau mình mẩy, sưng amiđan và nổi hạch ở cổ, khan tieng
Có nhiều nguyên nhân gây viêm họng nhưng phần lớn là do các loại vi rút (80%), còn lại là do vi khuẩn (chủ yếu liên cầu khuẩn tán huyết nhóm A Streptococcus – thủ phạm gây nên những biến chứng nghiêm trọng về tim, khớp và thận) và các yếu tố nguy cơ như thay đổi thời tiết, khói bụi, rượu, hoá chất…

2. Điều trị viêm họng như thế nào? 

Phần lớn viêm họng được điều trị bằng các loại kháng sinh, hạ sốt và giảm đau kết hợp với thuốc khử trùng họng.
Đặc biệt hãy tuân thủ theo đơn thuốc của bác sĩ đã kê. Nếu những triệu chứng của bệnh đã dứt thìbạn cũng không nên dừng thuốc mà hãy tiếp tục uống một thời gian nữa nhằm tạo ra kháng khuẩn chống tái phát bệnh cũng như những biến chứng khác của bệnh

3. Có biện pháp phòng và điều trị riêng cho trẻ em không?


Hãy biết cách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho con em mình

Trẻ em là những đối tượng mà " viêm họng" dễ tấn công bởi sức đề kháng cũng như hệ miễn dịch của trẻ còn yếu và non nớt. Bởi vậy bạn cần biết cách bảo vệ con em mình đúng cách để trẻ phát triển tốt cả thế lực và trí lực. Dưới đây là một vài biện pháp giúp bạn bảo vệ con trước nguy cơ viêm họng và một số bệnh hô hấp khác.
- Vệ sinh họng, răng, miệng cho con em mình hàng ngày bằng cách đánh răng, súc họng bằng nước muối loãng.
- Cần đeo khẩu trang cho trẻ khi ra đường để tránh khói bụi, tránh cho trẻ đến những nơi môi trường bị ô nhiễm.
- Tránh cho trẻ uống nước quá lạnh hoặc quá nóng hay có thói quen ngậm kẹo hay ăn kem. Với phòng ngủ, cần thoáng mát nhưng không được có gió lùa, nếu có điều hòa nhiệt độ thì nên giữ ở mức nhiệt độ mát mẻ dễ chịu, khoảng 28oC.
- Tập cho trẻ thói quen uống nhiều nước, hoạt động thể chất, đánh răng sau mỗi bữa ăn, rửa tay trước khi ăn và rửa tay sau khi đi vệ sinh.
- Khi trẻ mắc bệnh về răng, miệng, xoang, mũi… cần điều trị dứt điểm, tránh để mầm bệnh tồn tại và lây lan gây viêm họng.
- Khi viêm họng có chỉ định điều trị, cần thực hiện nghiêm túc, uống thuốc theo toa, đúng phác đồ kháng sinh được kê toa.
- Cần cho trẻ uống đúng thuốc, đủ liều, đúng thời gian, không được tự ý mua thuốc kháng sinh để điều trị vì điều trị không đúng sẽ để lại tình trạng kháng thuốc, làm cho điều trị sau này gặp nhiều khó khăn.

4. Phòng tránh lây nhiễm viêm họng như thế nào?

Nhiều người lầm tưởng rằng, viêm họng là bệnh không lây. Song trên thực tế, nó là bệnh lây lan qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp. Nếu ai đó xung quanh bạn đang bị viêm họng thì cách tốt nhất là tránh tiếp xúc với họ và rửa tay thường xuyên.
Nếu bị viêm họng, bạn cũng nên rửa tay thường xuyên nhằm hạn chế sự lây lan của vi khuẩn khi bạn dùng tay che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi.

Theo dân trí

Viêm họng khi nào cần dùng thuốc kháng sinh?

Hầu hết mọi người khi nhắc tới các bệnh về viêm như: viem thanh quan, viêm họng... đều nghĩ ngay đến điều trị bằng thuốc kháng sinh. Nhưng thực ra lại không hoàn toàn như vậy, bởi không phải lúc nào thuốc kháng sinh cũng là lựa chọn tốt nhất cho bệnh viêm họng. Tùy từng trường hợp cụ thể và các nguyên nhân gây viêm họng, khan tieng, người ta sẽ lựa chọn thuốc kháng sinh hay loại thuốc điều trị khác để đạt hiệu quả nhanh chóng.


Viêm họng khi nào cần dùng thuốc kháng sinh?

Theo IDSA khuyến cáo, mọi người chỉ nên dùng thuốc kháng sinh nếu bị viêm họng liên cầu khuẩn (do vi khuẩn streptococcus gây ra) và điều này cần phải được chẩn đoán, xét nghiệm cụ thể. Theo đó, những người có xét nghiệm dương tính với liên cầu khuẩn cần phải được chữa trị bằng thuốc penicillin hoặc amoxicillin nếu cần thiết. Cần tránh sử dụng các thuốc kháng sinh azithromycin và cephalosporin trong trường hợp này vì vi khuẩn streptococcus đang ngày càng có khả năng kháng thuốc.

Thống kê của Hiệp hội Các bệnh truyền nhiễm Mỹ (IDSA) giữa tháng 9-2012 cho biết, hàng năm có khoảng 15 triệu người ở Mỹ đến gặp bác sỹ vì bệnh viêm họng, mat tieng do viêm thanh quan và có tới 70% trong số họ được kê dùng thuốc kháng sinh. Mặc dù vậy, thực tế số người bị viêm họng do liên cầu khuẩn chiếm tỉ lệ nhỏ hơn rất nhiều: khoảng 20-30% trẻ em và 5-15% người lớn.


Cân nhắc khi dùng thuốc kháng sinh điều trị viêm họng

Bởi vậy câu hỏi đặt ra là: "Làm thế nào để phân biệt viêm họng do virus hay do liên cầu khuẩn?" Những dấu hiệu cho thấy viêm họng do virus là ho, chảy nước mũi, khàn giọng hoặc loét miệng… Trong khi đó, viêm họng nhiều khả năng do liên cầu khuẩn streptococcus gây ra nếu cơn đau xuất hiện đột ngột kèm cảm giác đau khi nuốt và người bệnh bị sốt mà không có các triệu chứng của cảm cúm thông thường.
Trẻ em dưới 3 tuổi thường không bị viêm họng do liên cầu khuẩn streptococcus. Các chuyên gia y tế Hoa Kỳ cũng đề xuất không nên cắt amiđan cho trẻ em hay bị viêm họng, ngoại trừ những trường hợp vô cùng đặc biệt, ví dụ như đứa trẻ bị nghẽn đường thở, vì việc phẫu thuật chứa đựng nhiều rủi ro hơn là ích lợi.
Bên cạnh đó nếu bắt buộc phải sử dụng thuốc kháng sinh khi bị viêm họng thì cần phải tham khảo ý kiến của thầy thuốc chứ không nên tự ý sử dụng thuốc kháng sinh vì có thể gây hiện tượng kháng thuốc nguy hiểm hơn.

Chữa viêm họng bằng những bài thuốc tự nhiên

Theo lương y Nguyễn Hữu Toàn vào khoảng tháng 8, 9 âm lịch thời tiết khô hanh vào ban ngày, ban đêm thời tiết trở lạnh, bệnh viêm họng dễ phát triển. Dưới đây là một số cách có thể giúp giảm những triệu chứng bệnh viêm họng  một cách đơn giản, hiệu quả cao, mà mỗi chúng ta có thể thực hiện được tại nhà:
Trước hết cần luôn giữ cho họng sạch sẽ, tránh trở thành môi trường cho vi khuẩn hoạt động. Vì vậy cần thường xuyên xúc họng bằng nước muối ấm. Khi không bị viêm có thể ngày súc họng 3 lần, còn nếu đang bị viêm thì cách 2,3 h xúc họng một lần.

Ngoài ra có thể làm giảm kích ứng của bệnh viêm họng bằng một số phương pháp đơn giản như sau:

Cách 1: Quất bao tử, lá húng chanh, mật ong, cho vào hấp chừng 5 phút. Ngày dùng từ 2,3 lần. Cách này hữu hiệu đặc biệt là đối với trẻ em.
Cách 2: Vỏ quất hồng bì đem ngâm với mật ong. Khi nào bị viêm họng có thể ngậm và nuốt dần có tác dụng giảm kích thích do viêm họng rất nhanh và hiệu quả.
Bên cạnh đó nên thường xuyên giữ ấm cổ họng, không nên uống nước lạnh, tránh tiếp xúc với khói thuốc lá để ngăn ngừa bệnh tái phát.

Các loại rau quả bạn nên ăn trong mùa đông

Mùa đông với đặc trưng thời tiết rất lạnh bởi vậy chúng ta rất dễ mắc các bệnh cảm cúm, mat tieng do ho, viêm họng...nếu không biết cách bảo vệ cơ thể. Dưới đây là một số loại rau quả bạn nên bổ sung vào bữa ăn của gia đình mình vào mùa đông để tăng sức đề kháng chống lại bệnh tật cũng như bổ sung nhưng vitamin cần thiết tốt cho cơ thể.


Các loại rau quả bạn nên ăn trong mùa đông

Củ cải 

Củ cải rất dễ kiếm, giá cả lại phải chăng đặc biệt là trong củ cải có chứa nhiều nước, nguồn vitamin C dồi dào, nhiều protein, ít chất béo và các loại đường dễ hấp thụ (glucose, fructose) rất cần thiết cho cơ thể đặc biệt là trong mùa đông. Thêm vào củ cái là nguồn cung cấp nhiều chất khoáng cần thiết cho cơ thể như canxi, photpho, sắt, mangan, vitamin nhóm B và nhiều loại axit amin khác.
Do thành phần dinh dưỡng có trong củ cải nên củ cải có nhiều tác dụng với sức khỏe con người. Đặc biệt, củ cải giúp làm giảm bệnh ở bộ máy hô hấp như ho, hen, đờm, suyễn, tức ngực, khan tieng, mất tiếng, ho ra máu…. Ngoài ra, nó cũng có ích lợi với bộ máy tiêu hóa như đau vùng thượng vị, ợ chua, nôn, ăn không tiêu, chướng bụng, táo bón, lòi dom, trĩ. … Bởi vậy hãy nhanh tay bổ sung củ cải cho bữa ăn của gia đình bạn nhé và giúp cả nhà nói không với các bệnh hô hấp như viem thanh quan, viêm họng, ho...nhé

Rau cải xoăn

Nếu xét về dinh dưỡng thì bạn sẽ phải bất ngờ vì cải xoăn là “một superfood” có chứa một lượng cao vitamin K, A, C, và thậm chí một chút của canxi có lợi cho sức khỏe. Các chất lutin, phytochemial zeaxanthin trong cải xoăn giúp cho mắt sáng và không bị mỏi mệt khi làm việc. Nếu ăn cải xoăn thường xuyên sẽ giảm được 50% nguy cơ thoái hoá võng mạc ở mắt so với những người không ăn hoặc ăn ít hơn 2 loại rau này.

Cam quýt múi đỏ


Cam quýt múi đỏ cần thiết cho mùa đông của bạn

Đây là trái cây dậy hương thơm trong mùa đông. Bạn có thể làm sa lát, món tráng miệng hoặc thức uống bổ dưỡng.
Cũng giống như các giống cam quýt khác, cam quýt múi đỏ giàu vitamin C và chất xơ. Nó cũng là loại quả giúp làm giảm bớt chứng ho, khản tiếng – một chứng bệnh thường xuất hiện trong mùa đông.

Cây nam việt quất

Đây là trái cây thơm ngon, lành mạnh thường hiện diện trong ngày Lễ tạ ơn. Nó không chỉ làm giảm nguy cơ nhiễm trùng mà còn chứa vitamin C và thậm chí có thể cải thiện HDL cholesterol (cholesterol tốt).
Tính kháng khuẩn của nam việt quất có thể giúp đánh bại bệnh viêm lợi và các bệnh viêm nhiễm đường miệng, bệnh viêm nhiễm đường tiết niệu…

Đậu Hà Lan

Có rất nhiều người thích ăn hạt Đậu Hà Lan tuy nhiên lại không phải ai cũng biết những tác dụng tuyệt vời đối với sức khỏe của nó.Trong Đậu Hà Lan có chứa ít calo và nhiều vitamin C và K. Thay vì giữ chúng trong tủ lạnh sẽ bị mất chất, bạn nên chế biến ngay sau khi mua chúng bằng việc nấu chè, ninh với thịt hoặc các món xào kết hợp.
Hạt đậu Hà Lan vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng bổ tỳ vị, lợi tiểu tiện, chỉ tả lỵ, tiêu ung độc;…thường được dùng chữa các chứng ăn uống khó tiêu, tăng huyết áp, tiểu đường…

Cải bắp

Cải bắp có thể được coi là loại rau rất thường gặp trong bữa ăn của mọi gia đình trong mùa đông bởi hương vị thơm ngon và dễ ăn của cải bắp. Thêm vào đó  cải bắp có chứa nhiều dinh dưỡng, vitamin K, vitamin C và chất xơ.  Bắp cải cũng được coi là một trong những loại thuốc quý trong điều trị các bệnh viêm họng, viêm phế quản, khản tiếng; phòng chống nhiễm khuẩn, nhiễm nấm ngoài da. Nếu dùng đắp ngoài da, có thể chữa mụn nhọt và dị ứng do côn trùng đốt.

Cây đại hoàng 


Cây đại hoàng là món ăn bổ dưỡng dành cho gia đình bạn

Đây là cây có cuống lá màu đỏ nhạt, dày, nấu lên ăn như trái cây. Loại cây này cũng tạo được hương vị khác biệt trong thời tiết lạnh giá mùa đông với hương vị hơi chua chua.
Cây đại hoàng thường đường kết hợp với đường, mật ong, hoặc nước trái cây để cân đối lượng axit. Nó cũng chứa nhiều vitamin C, A và canxi.
Những chiết xuất từ cây đại hoàng có thể khử hoạt tính của virus cúm và những loại virus chuyên gây các bệnh đường hô hấp trên ở trẻ em và người già.

Hạt dẻ

Hạt dẻ luôn là một món ăn vặt yêu thích chỉ có trong mùa đông. Nó là nguồn cung cấp vitamin C, tinh bột, protein, lipit, các vitamin B1, B2, C, PP và các khoáng chất Ca, P, Fe. Hạt dẻ còn được yêu thích vì một hương vị tinh tế ngọt ngọt, bùi bùi.
Hạt dẻ có tác dụng dưỡng vị, bổ thận, diệt trùng, tiêu tích, nhuận đờm, trừ ho. Có thể dùng để chữa đau dạ dày, trĩ, thổ huyết hoặc trừ giun sán. Hạt dẻ có thể ăn sống, ăn chín (luộc, rang, nướng…) chế biến thành bột hạt dẻ để làm bánh, nấu cháo, nấu chè.

Bông Atiso

Những bông Atiso tươi tự nhiên giàu chất xơ, vitamin C và chứa nhiều diệp lục – thiết yếu cho sản xuất các tế bào mới.
Bên cạnh đó, Atisô có tác dụng bổ gan, lọc máu, bổ tim, chống độc, lợi tiểu. Rễ Atiso có tác dụng lợi tiểu, được dùng trong trường hợp thấp khớp, thống phong, vàng da…có giá trị dinh dưỡng cao.

Quả hồng

Là một nguồn vitamin C và chất xơ. Do quả hồng có chứa protein, lipid, đường gluco, glucoza và nhiều loại chất khoáng nên nó có công hiệu thanh nhiệt, nhuận táo, tan đờm giảm ho. Nó cũng là vị thuốc tốt dùng chữa viêm niêm mạc miệng lưỡi, viêm rát họng, ho do phế nhiệt.


Thứ Ba, 12 tháng 8, 2014

Cân nhắc khi cho con sử dụng siro ho

Có nhiều ý kiến trái chiều về việc: Nên hay không nên cho con sử dụng siro ho, khan tieng, mất tiếng? Dưới đây là một trong những quan điểm để bạn tham khảo và đánh giá nhé.


Cân nhắc khi cho con sử dụng siro ho

Bác sĩ Gazarian cho biết, phần lớn các dạng ho dẫn đến mat tieng và cảm lạnh ở trẻ nhỏ là bệnh do virus để tự hạn chế. Bọn trẻ có thể hồi phục khi được nghỉ ngơi, uống nhiều nước, và khi sốt thì dùng thêm paracetamol. Thế nên, các chuyên gia khuyên các bậc phụ huynh cũng không nên quá sợ hãi, lo lắng nếu đã từng dùng thuốc dạng sirô cho trẻ.

Những lo lắng về an toàn khi cho trẻ uống sirô ho đã được các nhà nghiên cứu quan tâm tới. Sự lựa chọn thuốc dạng sirô cho con trẻ của nhiều phụ huynh thực ra là ít tác dụng, thậm chí còn có hại

Uỷ ban danh mục dược phẩm và chất độc quốc gia Australia đã khuyến cáo rằng, một nhóm sirô ho, viem thanh quan và cảm bao gồm cả Demazin và Dimetapp sẽ được dùng cho trẻ dưới 2 tuổi khi có sự chỉ định của bác sĩ

Cơ quan chuyên môn đã phát hiện thấy, mặc dù có ít vấn đề gián tiếp liên quan tới các loại sirô kháng histamine ở Australia nhưng những lo lắng về độ an toàn còn hơn cả những lợi ích mà chúng mang lại.

Cơ quan quản lý dược phẩm gần đây đã cho biết những báo cáo từ Mỹ và Anh đã nêu những vấn đề an toàn cần lưu ý nếu sử dụng sirô không hợp lý và quá liều. Phản ứng phụ của trẻ do loại thuốc này bao gồm tâm trạng lo ấu, chứng mất ngủ, ảo giác và sự an thần trầm trọng.


Các bậc phụ huynh đã nhầm lẫn nếu họ nghĩ rằng vì thuốc làm dịu cơn ho giúp trẻ dễ ngủ nên là thuốc tốt. Đây là nhận xét của Madlen Gazarian - một bác sĩ chuyên khoa nhi.

Gazarian nói về quyết định cho trẻ dưới 2 tuổi dùng sirô: "Tôi chắc chắn nhiều bậc cha mẹ sẽ rất ngạc nhiên". Bà ủng hộ những nhận định của Uỷ ban là có rất ít bằng chứng về tác dụng phụ của sirô ho nhưng cũng không có lợi ích rõ ràng nào trong việc điều trị các triệu chứng ho và cảm ở trẻ nhỏ, thế nên sự cân bằng của lợi ích đối nghịch với nguy cơ là điều không tốt.

Các bậc cha mẹ có thể tranh luận đó phải là thuốc tốt nếu sirô giúp trẻ ngủ được. Nhưng một phát ngôn viên của Trường đại học Y quốc gia hỏi bác sĩ Gazarian rằng, liệu có nên đưa ra ý kiến một cách phiến diện thế không. Bởi vì sự điều trị cũng không giải quyết được những triệu chứng cơ bản. Tình trạng uể oải có thể là một dấu hiệu quan trọng của bệnh nặng ở trẻ nhỏ và những hiệu quả an thần của loại thuốc này có thể làm trì hoãn sự nhận biết nhu cầu quan tâm đến thuốc men.

Những lo lắng về an toàn khi cho trẻ uống sirô ho đã được các nhà nghiên cứu quan tâm tới. Sự lựa chọn thuốc dạng sirô cho con trẻ của nhiều phụ huynh thực ra là ít tác dụng, thậm chí còn có hại.

Uỷ ban danh mục dược phẩm và chất độc quốc gia Australia đã khuyến cáo rằng, một nhóm sirô ho và cảm bao gồm cả Demazin và Dimetapp sẽ được dùng cho trẻ dưới 2 tuổi khi có sự chỉ định của bác sĩ.

Cơ quan chuyên môn đã phát hiện thấy, mặc dù có ít vấn đề gián tiếp liên quan tới các loại sirô kháng histamine ở Australia nhưng những lo lắng về độ an toàn còn hơn cả những lợi ích mà chúng mang lại.

Cơ quan quản lý dược phẩm gần đây đã cho biết những báo cáo từ Mỹ và Anh đã nêu những vấn đề an toàn cần lưu ý nếu sử dụng sirô không hợp lý và quá liều. Phản ứng phụ của trẻ do loại thuốc này bao gồm tâm trạng lo ấu, chứng mất ngủ, ảo giác và sự an thần trầm trọng.

Các bậc phụ huynh đã nhầm lẫn nếu họ nghĩ rằng vì thuốc làm dịu cơn ho giúp trẻ dễ ngủ nên là thuốc tốt. Đây là nhận xét của Madlen Gazarian - một bác sĩ chuyên khoa nhi.

Gazarian nói về quyết định cho trẻ dưới 2 tuổi dùng sirô: "Tôi chắc chắn nhiều bậc cha mẹ sẽ rất ngạc nhiên". Bà ủng hộ những nhận định của Uỷ ban là có rất ít bằng chứng về tác dụng phụ của sirô ho nhưng cũng không có lợi ích rõ ràng nào trong việc điều trị các triệu chứng ho và cảm ở trẻ nhỏ, thế nên sự cân bằng của lợi ích đối nghịch với nguy cơ là điều không tốt.

Lưu ý mẹ khi cho con dùng siro

Thuốc dạng Siro được các mẹ tin dùng bởi sự tiện dụng, tác dụng nhanh, vị ngọt, dễ uống và có mùi vị giống hoa quả nên các con thích. Khi các con bị viêm họng, ho, mat tieng... Siro là điều đầu tiên các mẹ nghĩ đến. Tuy nhiên việc sử dụng siro như thế nào là dúng cách và không gay hại cho các con? Điều này không phải ai cũng biết.


Lưu ý mẹ khi cho con dùng siro

Trẻ bị ho, viem thanh quan, cha mẹ dùng thuốc siro chữa ho trẻ em, trẻ bị biếng ăn, cha mẹ dùng siro ăn ngon cho bé, trẻ bị rối loạn tiêu hóa, cha mẹ dùng men vi sinh dạng siro cho bé uống,… Do vậy, cha mẹ cũng cần hiểu biết thêm về dạng này để sử dụng siro chữa bệnh cho bé sao cho phù hợp, đúng cách và hiệu quả nhất.

1. Trong thành phần của các loại siro trị ho, mất tiếng, viêm họng, kho noi nói riêng và các loại thuốc siro nói chung thường có hàm lượng lớn đường, do đó cha mẹ không nên cho con uống sát nay bữa ăn bởi vì lượng đường trong thuốc sẽ ức chế tiết dịch tiêu hóa. Thêm vào đó, đường được hấp thụ rất nhanh làm đường trong máu tăng lên khiến trẻ có cảm giác no, ngang dạ, chán ăn. Do đó cha ,ẹ hãy là những người sử dụng thông minh, lựa chon thời gian hợp lý để con uống thuốc nhé.

2. Đường trong siro thuốc cũng như đường trong bánh kẹo, do đó không nên cho các con uống trước khi đi ngủ vì có thể khiến con bị hỏng men răng, sâu răng, sún răng do chất ngọt trong đường bám vào răng. Nếu cho trẻ uống buổi tối, sau đó cần uống nhiều nước, súc miệng kỹ, nếu trẻ lớn có thể đánh răng được thì tốt.


Các mẹ không nên cho con uống siro trước khi đi ngủ

3. Với các loại thuốc bổ máu có chất sắt (Fer-in-sol; Fer.c.B12; Tothéma; sắt peptonat hòa tan…), nếu dùng cho trẻ em bị thiếu máu do thiếu chất sắt, khi cho uống không cho thuốc tiếp xúc trực tiếp với răng, vì dễ làm cho răng có màu nâu xỉn.

4. Không cho uống thuốc cùng với sữa bò hoặc uống vào sát thời điểm bú mẹ, để tránh tạo thành chất sắt không hòa tan cản trở sự hấp thu sắt. Điểm nữa, khi uống thuốc này, phân trẻ sẽ có màu đen, nhưng điều đó là bình thường không đáng lo.

5. Thuốc có vị ngọt, lại có mùi thơm hấp dẫn nên trẻ rất thích uống. Bởi vậy cần để thuốc ở nơi cao, xa tầm tay trẻ không tự với lấy được. Nếu không, trẻ sẽ lấy thuốc tự uống dễ gây ngộ độc thuốc.

6. Khi cho trẻ uống thuốc, cần theo đúng chỉ dẫn về liều lượng số giọt hoặc thìa đong thuốc hợp với từng lứa tuổi của trẻ.

(Theo meyeucon)

Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

Các thói quen xấu gây giảm khả năng sinh sản

Thói quen sinh hoạt ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cũng như cuộc sống của con người. Đôi khi những thói quen tưởng chừng rất nhỏ nhưng lại gây ảnh hưởng nghiêm trọng không ngờ. Dưới đây là một vài thói quen xấu gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản mà bạn có thể không biết. Hãy thay đổi và xây dựng cho mình những thói quen tốt và khoa học để bảo vệ sức khỏe của bản thân nhé.


Các thói quen xấu gây giảm khả năng sinh sản

1. Uống nhiều rượu bia

Theo các nhà nghiên cứu, uống nhiều rượu có thể dẫn tới vô sinh. Đối với phụ nữ, uống 3 ly rượu hoặc nhiều rượu/ tuần thường khó có con. Đặc biệt với phụ nữ đang có ý định có con. Không những vậy các chất cồn có thể là tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp của bạn ví dụ như viem thanh quan, viêm họng...

Nếu bạn thường uống một ly bia hoặc một ly rượu vào mỗi bữa ăn tối, hãy giảm bớt từ 1 - 2 lần/ tuần. Những thức uống có chứa cồn sẽ làm vòng hai của bạn phát triển, vì chúng chứa nhiều calorie.

Nếu uống nhiều hơn vì cảm thấy thích hoặc nếu có vấn đề về sức khỏe khi uống, bạn cần đến gặp bác sĩ. Phụ nữ dùng thức uống có cồn khi mang thai có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thai nhi.

2. Thức khuya

Nghiên cứu của các nhà khoa học cho biết, có sự liên quan giữa thiếu ngủ và sinh hoạt thất thường, có thể gây vô sinh. Đặc biệt, những phụ nữ thường xuyên làm việc ca đêm thường có nguy cơ bị sẩy thai.

Những người đi ngủ muộn thường ăn nhiều vào buổi tối, dùng đồ uống lạnh khiến bạn mắc các bệnh hô hấp gây mat tieng, khó nói do đau rát họng...dùng nhiều thức ăn nhanh nhưng lại ăn ít rau củ nên lượng calo sẽ nhiều hơn bình thường.

 Khi chỉ số cân nặng cơ thể vượt quá giới hạn sẽ gây rối loạn chức năng hoạt động của cơ quan sinh dục và dẫn tới vô sinh.

3. Tắm rửa không đúng cách

Nhiều chị em có thói quen tắm khuya rất nguy hiểm cho sức khỏe. Tăm khuya có thể khiến bạn mất ngủ, khó ngủ, bị cảm, bị viêm họng gây kho noi, khan tiếng...Đặc biệt khi nhiều thói quen sai lầm khi tắm khiến không ít chị em phải khổ sở với bệnh tật. Khi tắm, phụ nữ thường dùng tia nước của vòi hoa sen rửa nhẹ nhàng bên ngoài vùng kín sẽ rất sạch sẽ.


Nhưng có bạn không để ý mà xối mạnh nước vào thẳng “cô bé” sẽ khiến vi khuẩn bị đẩy ngược đi lên tử cung gây viêm loét, tắc ống dẫn trứng gây vô sinh.

Có người dùng nước muối loãng hoặc nước lá trầu không để rửa cũng rất khoa học, tuy nhiên, thay vì lấy nước ra rửa từ từ vùng kín, bạn lại ngâm mình vào trong chậu để rửa thì sẽ thật sai lầm.

Thói quen này, tạo điều kiện thuận lợi để những vi khuẩn vốn rất sẵn ở hậu môn có thể lan vào nước và tấn công lại “cô bé” gây nhiễm trùng sinh dục.

4. Ăn vặt

Bắp rang bơ, ngô chiên, thịt nướng… là những món quà vặt hấp dẫn đối với chị em phụ nữ. Nhưng những loại thức ăn đó có chứa một lượng chất béo rất lớn làm tăng lượng estrogen làm ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng, ngăn cản quá trình thụ thai sau này.

Thói quen này không chỉ làm cho phụ nữ tăng cân mà có thể tăng đường trong máu, điều này không tốt cho chức năng sinh sản. Do vậy, bạn hãy chọn chế độ ăn uống khỏe mạnh để giảm căng thẳng hoặc liệu pháp kết hợp giữa thể chất – tinh thần, nhờ chuyên gia tư vấn hoặc áp dụng những kỹ thuật giảm stress.

5. Dùng nhiều caffein

Theo nghiên cứu, nếu dùng thứ uống có quá nhiều caffein (cà phê, trà, nước ngọt) đều có nguy cơ gây vô sinh. Tuy một tách cà phê hoặc trà không ảnh hưởng đến vô sinh, nhưng nhiều tách cà phê/ ngày sẽ gây hậu quả xấu.

Nghiên cứu cho thấy, dùng nhiều hơn 300mg caffein/ ngày có thể ảnh hưởng nhẹ đến khả năng sinh sản và có thể gia tăng nguy cơ sẩy thai ở phụ nữ.

300mg caffein tương đương với 2 tách cà phê pha hoặc cà phê lọc (cà phê pha chứa nhiều caffein gấp hai lần so với cà phê lọc) hoặc 6 tách trà đậm hoặc thức uống chứa caffein.

Giấc ngủ trưa ngắn trong 15 hoặc 20 phút sẽ giúp tăng cường năng lượng cho cơ thể. Tốt nhất, bạn hãy tập thói quen uống trà thảo dược, không chứa caffein hoặc cà phê đã lọc hết caffein.

6. Thói quen sử dụng thực phẩm đóng hộp

Thói quen sử dụng các loại thực phẩm đóng hộp ảnh hưởng đến khả năng tình dục của người đàn ông.

Mọi người thường thấy thực phẩm đóng hộp rất thuận tiện nhưng hầu hết chúng đều chứa một lượng natri lớn nhưng lượng kali lại rất thấp.

Điều này sẽ dẫn đến bệnh tăng huyết áp, làm giảm lượng máu tới cơ quan sinh dục. Trong khi đó, quá trình quan hệ tình dục đòi hỏi máu cần được lưu thông đầy đủ. Hơn nữa, đồ hộp thường được phủ bởi bisphenol-A (BPA), một hóa chất có thể phá vỡ hệ thống nội tiết tố sinh dục nam.

Vì vậy, ăn quá nhiều thực phẩm đóng hộp có thể gây ra rối loạn chức năng cương dương.

7. Sản phẩm tạo mùi hương

Chị em phụ nữ thường có thói quen dùng hương thơm trong quần áo, chất xả vải, máy sấy tóc, lăn khử mùi… rất có thể là nguyên nhân gây vô sinh ở nữ giới.

Bởi thành phần chính để tạo mùi hương là chất phthalates, một hóa chất độc hại có khả năng gây rối loạn chức năng sinh lý của chị em, dẫn tới vô sinh.

Do vậy, bạn hãy sử dụng các sản phẩm có chiết xuất từ thực vật, dùng giấm trắng để làm mềm vải… hoặc dùng những sản phẩm có chất lượng đã được kiểm chứng không gây hại cho cơ thể.

8. Đi xe đạp lâu

Đạp xe đạp luyện tập chân là môn thể thao được nhiều quý ông ưa chuộng. Nhưng các bậc nam nhi không nên nghĩ rằng đạp xe càng lâu thì cơ thể càng mạnh khỏe.

Mà ngược lại, nếu ngồi trên xe đạp tập luyện trong thời gian dài sẽ làm cho “cậu nhỏ” bị tổn hao, thậm chí bị sưng tấy, từ đó gây ra các chướng ngại về chức năng giới tính của nam giới.

Nguyên nhân được giải thích là do cái yên xe. Yên xe không những rất cứng mà còn nhô về phía trước. Khi đạp xe, “cậu nhỏ” sẽ thường xuyên bị va chạm với yên xe.

9. Ngồi ghế sofa mềm thời gian dài

Y học đã nghiên cứu và phát hiện ra rằng, nếu trong thời gian dài ngồi trên ghế sofa mềm sẽ gây tổn hại nghiêm trọng cho “cậu nhỏ” của đấng mày râu. Bởi vì tư thế ngồi bình thường là lấy xương hông làm điểm tựa, “cậu nhỏ” sẽ được yên ổn ở giữa hai chân.

Nhưng khi bạn ngồi trên ghế sofa mềm, điểm tựa bị thấp xuống, đôi chân sẽ bị gò bó, “cậu nhỏ” vì thế sẽ bị chèn ép, gây trở ngại cho máu lưu thông, vì vậy sẽ không tốt cho cơ chế cương dương.

Theo Phunutoday

Căn bệnh chết người Ebola và cách phòng tránh

Gần đây dich bệnh Ebola đang lan truyền rất nhanh và nhanh chóng nhận được sự quan tâm của toàn thế giới bởi độ nguy hiểm, tốc độ lây lan và những tàn phá của dich bệnh này gây ra. Dưới đây là những điều bạn nên biết về hiểm họa Ebola và cách phòng tránh để bảo vệ mình và gia đình.

Căn bệnh chết người Ebola và cách phòng tránh

Căn bệnh chết người Ebola

Ebola xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1976 được khởi phát tại đồng thời tại hai ổ dịch là Nzara, Sudan và ở Yambuku, Cộng hòa dân chủ Congo. Bệnh nhanh chóng lây làn ra một khu làng nằm gần con sông Ebola với tốc độ nhanh chóng và trở thành nỗi ảm ảnh của người dân nơi đây và được đặt theo tên con sông này.

Ebolavirus là 1 trong 3 giống vi rút thuộc họ Filoviridae (filovirus), cùng họ với Marburgvirus và Cuevavirus. Ebolavirus bao gồm 5 loài khác nhau:

- Bundibugyo ebolavirus (BDBV)

- Zaire ebolavirus (EBOV)

- Reston ebolavirus (RESTV)

- Sudan ebolavirus (SUDV)

- Taï Forest ebolavirus (TAFV).

BDBV, EBOV, và SUDV đều có liên quan với những ổ dịch bệnh Ebola lớn ở châu Phi, trong khi RESTV và TAFV thì không.

Loài RESTV, đã được phát hiện ở Philippines và Trung Quốc, có thể nhiễm cho người, nhưng cho đến nay chưa có báo cáo nào về ca bệnh hoặc tử vong ở người do loài này.

Phương thức Lây truyền của Ebola

Ebola xuất hiện trên người thông qua tiếp xúc gần gũi với máu, dịch tiết, phủ tạng hoặc các dịch cơ thể khác của động vật nhiễm bệnh. Ở châu Phi, đã ghi nhận tình trạng nhiễm bệnh xảy ra do vận chuyển tinh tinh, đười ươi, dơi ăn quả, khỉ, linh dương rừng và nhím ốm bệnh hoặc chết hoặc trong rừng nhiệt đới.

Sau đó Ebola lan truyền trong cộng đồng thông qua lây nhiễm từ người sang người, với nhiễm trùng là hậu quả của tiếp xúc trực tiếp (qua vết thương hở trên da hoặc niêm mạc) với máu, dịch tiết, phủ tạng hoặc các dịch cơ thể khác của người bệnh, cơ thể vô cùng met moi và qua tiếp xúc gián tiếp với môi trường bị ô nhiễm những loại dịch này.

Những đám tang trong đó người tham dự có tiếp xúc trực tiếp với thi hài của người quá cố cũng đóng vai trò trong lây truyền Ebola.

Nam giới đã khỏi bệnh vẫn có thể lây truyền vi rút qua tinh dịch trong tới 7 tuần sau khi bình phục.

Các nhân viên y tế rất hay bị lây nhiễm trong khi điều trị cho bệnh nhân nghi ngờ hoặc chắc chắn bị Ebola. Lây nhiễm xảy ra thông qua tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân khi các biện pháp phòng ngừa không được thực hiện nghiêm ngặt.

Dấu hiệu và triệu chứng

Bệnh Ebola là một bệnh vi rút cấp tính nặng thường điển hình bởi sốt cao đột ngột, cực kỳ mệt mỏi, đau cơ, đau đầu và đau họng gây kho noi. Tiếp theo là nôn, tiêu chảy, suy chức năng thận và gan, và ở một số trường hợp xuất huyết nội và ngoại. Kết quả cận lâm sàng bao gồm giảm bạch cầu và tiểu cầu và tăng men gan.

Người bệnh có khả năng lây bệnh chừng nào mà máu và dịch tiết của họ còn chứa vi rút. Đã phân lập được vi rút Ebola từ tinh dịch của một nam giới bị nhiễm trong phòng thí nghiệm 61 ngày sau khi bệnh khởi phát.

Thời gian ủ bệnh, nghĩa là thời gian từ khi nhiễm vi rút đến khi xuất hiện triệu chứng, là từ 2 – 21 ngày.

Chẩn đoán

Các bệnh khác cần loại trừ trước khi đưa ra chẩn đoán bệnh Ebola bao gồm: sốt rét, thương hàn, lỵ trực trùng, tả, bệnh leptospira, dịch hạcplague, bệnh rickettsia, sốt hồi quy, viêm màng não, khan tieng do đau rát họng,viêm gan và các bệnh sốt xuất huyết do vi rút khác.

Có thể chẩn đoán xác định nhiễm vi rút Ebola trong phòng thí nghiệm thông qua nhiều loại xét nghiệm như xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết enzym (ELISA); xét nghiệm phát hiện kháng nguyên; xét nghiệm trung hòa huyết thanh; xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR); soi kính hiển vi điện tử; phân lập vi rút bằng nuôi cấy tế bào.

Các mẫu bệnh phẩm từ bệnh nhân có nguy cơ sinh học cực kỳ lớn; việc xét nghiệm cần được tiến hành trong điều kiện an toàn sinh học tối đa.

Vắc xin và điều trị

Hiện chưa có vắc xin nào cho bệnh Ebola. Nhiều vắc xin đang được thử nghiệm nhưng chưa có loại nào được sử dụng trên lâm sàng.

Những bệnh nhân nặng cần được chăm sóc hỗ trợ tích cực. Bệnh nhân thường bị mất nước và cần bù nước đường uống bằng các dung dịch chứa chất điện giải hoặc bằng dịch truyền tĩnh mạch.

Bệnh chưa có cách điều trị đặc hiệu. Một số phác đồ thuốc mới đang được đánh giá.

Vật chủ tự nhiên của vi rút Ebola



Ở châu Phi, dơi ăn quả, nhất là các loài thuộc giống Hypsignathus monstrosus, Epomops franqueti và Myonycteris torquata, được xem là vật chủ tự nhiên của vi rút Ebola. Hệ quả là phân bố địa lý của vi rút Ebola có thể trùng với phạm vi hoạt động của dơi.

Phòng chống

Giảm nguy cơ nhiễm Ebola trên người

Trong bối cảnh chưa có biện pháp điều trị hiệu quả và chưa có vắc xin cho người, việc nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ gây nhiễm Ebola và các biện pháp bảo vệ cá nhân là cách duy nhất để giảm nhiễm bệnh và tử vong ở người.

Ở các vùng dịch bệnh Ebola, thông điệp về giáo dục cộng đồng để giảm nguy cơ tập trung vào những yếu tố sau:

- Giảm nguy cơ lây bệnh từ động vật hoang dã sang người qua tiếp xúc với dơi ăn quả hoặc khỉ/linh trưởngr nhiễm bệnh và ăn thịt sống của chúng. Khi xử lý động vật cần mang găng và quần áo bảo hộ thích hợp. Các sản phẩm từ động vật (máu và thịt) cần được nấu kỹ trước khi ăn.

- Giảm nguy cơ lây bệnh từ người sang người trong cộng đồng do tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gần với người bệnh, nhất là với dịch cơ thể của người bệnh.

Cần tránh tiếp xúc cơ thể gần với bệnh nhân Ebola.

Nên mang găng tay và trang thiết bị bảo vệ cá nhân thích hợp khi chăm sóc cho người bệnh tại nhà.

Rửa tay thường xuyên sau khi đi thăm bệnh nhân ở bệnh viện, cũng như sau khi chăm sóc người bệnh tại nhà.

-Những cộng đồng bị Ebola cần thông tin cho người dân về tính chất của bệnh và về các biện pháp kiềm chế dịch bệnh, bao gồm việc mai tang người chết. Những người bị chết do Ebola cần được mai táng kịp thời và an toàn.

Các trang trại lợn ở châu Phi có thể đóng vai trò tăng qui mô dịch bệnh do sự có mặt của dơi ăn quả ở những trang trại này. Cần áp dụng các biện pháp an toàn sinh học thích hợp để hạn chế lây nhiễm.

Đối với RESTV, chú trọng việc giảm nguy cơ lây truyền bệnh từ lợn sang người do công tác chăn nuôi và giết mổ động vật không an toàn, cũng như việc tiêu thụ không an toàn các sản phẩm máu tươi, sữa sống hoặc thịt động vật. Cần mang găng và quần áo bảo hộ thích hợp khi xử lý động vật bệnh hoặc mô động vật và khi giết mổ động vật. Ở những vùng đã có báo cáo về RESTV trên lợn, tất cả các sản phẩm động vật (máu, thịt và sữa) đều phải được nấu chín trước khi ăn.

Phòng chống lây nhiễm tại cơ sở y tế

Lây truyền vi rút Ebola từ người sang người chủ yếu liên quan với tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch cơ thể. Đã có báo cáo về lây nhiễm ở nhân viên y tế khi không có những biện pháp phòng chống thích hợp.

Không phải lúc nào cũng xác định được bệnh nhân Ebola sớm do các triệu chứng ban đầu thường không đặc hiệu. Do đó, các nhân viên y tế cần áp dụng các biện pháp phòng chống trước mọi bệnh nhân – bất kể chẩn đoán là gì - ở mọi lúc và mọi nơi.

Những biện pháp này bao gồm vệ sinh tay, vệ sinh đường hô hấp, sử dụng trang bị bảo hộ cá nhân (theo nguy cơ phát tán hoặc tiếp xúc khác với vật liệu nhiễm), thực hành tiêm chích an toàn và thực hành mai táng an toàn.

Ngoài những biện pháp cơ bản nêu trên, nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân nghi ngờ hoặc chắc chắn nhiễm vi rút Ebola cần áp dụng thêm những biện pháp phòng chống lây nhiễm khác để tránh mọi phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể của bệnh nhân và tiếp xúc trực tiếp không có biện pháp bảo vệ với môi trường ô nhiễm. Khi tiếp xúc gần (trong vòng 1 mét) với bệnh nhân Ebola, nhân viên y tế cần mang trang bị bảo vệ mặt (tấm chắn hoặc khẩu trang y tế và kính bảo hộ), áo choàng dài sạch không cần vô trùng và găng (găng vô trùng đối với một số thủ thuật).

Nhân viên phòng thí nghiệm cũng có nguy cơ. Mẫu bệnh phẩm lấy từ động vật và người nghi nhiễm Ebola cần được vận chuyển bởi nhân viên được đào tạo và xử lý tại phòng thí nghiệm có trang bị thích hợp.

(Theo Dân trí)

Bí quyết phòng tránh bệnh hô hấp trong mùa mưa

Cảm, ho, viêm phế quản, viem thanh quan là những căn bệnh về đường hô hấp thường gặp đặc biệt là trong thời tiết mưa nhiều, ẩm thấp và luôn tiền ẩn một số bệnh nguy hiểm khác như sốt xuất huyết, viêm phổi, viêm não. Hãy bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình bạn bằng những bí quyết đơn giản và hiệu quả sau nhé.


Bí quyết phòng tránh bệnh hô hấp trong mùa mưa

Chế độ ăn uống cân bằng và hợp lý sẽ hạn ché các bệnh về hô hấp

Chế độ ăn uống hàng ngày ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của bạn và gia đình. Thói quen ăn uống khoa hoc, lành mạnh và cân bằng dinh dưỡng giúp tăng cường miễn dịch và ngăn ngừa viêm nhiễm để bạn đủ sức chống lại bệnh tật. Trong các bữa ăn hàng ngày bạn nên chọn những thực phẩm giàu vitamin, chất sơ và khoáng chất như: thịt, cá, trứng, sữa cùng các chất chống ô-xy hóa như trái cây, rau xanh, các loại quả hạch, ngũ cốc. Ngoàii ra bổ sung thêm Vitamin C là một cách hiệu quả giúp củng cố sức mạnh cho hệ thống miễn dịch trong cơ thể, kích thích khả năng hoạt động của các kháng thể để đánh bại những triệu chứng khó chịu của bệnh cảm, cúm, viêm họng, khan tieng, mất tiếng....Thêm vào đó bạn cũng nên chú ý rằng, việc ăn quá mặn cũng làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp, sỏi thận...

Bổ sung đủ nước hàng ngày cho cơ thể

Bổ sung đủ nước cho cở thể

Nước là một thành phần tất yếu của cuộc sống.Nước không chỉ giúp làm dịu mát cơ thể, duy trì thân nhiệt ổn định mà còn giúp bạn loại bớt những độc tố tích tụ trong cơ thể ra bên ngoài, thanh lọc cơ thể, làm đẹp da.... Bạn nên cung cấp đủ nước cho cơ thể (2 lít/ người/ ngày). Hạn chế thực phẩm lạnh như: kem, đá…đặc biệt là trong mùa hè để giảm nguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp gây đau rát, kho noi, mệt mỏi...

Nói không với các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá...

Đê bảo vệ sức khỏe bạn nên hạn chế sử dụng các chất kích thích như cồn, bia, rượu, thuốc lá. Bởi vì Chất cồn, thuốc lá làm cơ thể bị mất nước và là nguyên nhân khiến hệ miễn dịch bị suy yếu, ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của hệ thống các cơ quan hô hấp, gây xơ cứng các động mạch trong phổi và tiềm ẩn nguy cơ ung thư. Bên cạnh đó, không hút thuốc lá cũng là cách bạn bảo vệ sức khỏe của cộng đồng và những người thân trong gia đình.

Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ

Nhà cửa sạch sẽ, thoáng mát

Thường xuyên dọn dẹp nhà cửa, vệ sinh đồ đạc, giường chiếu, để nhà ở thông thoáng, vệ sinh là yêu tố đầu tiên giúp bạn nói không với các bệnh đường hô hấp. Môi trường ẩm thấp, kém vệ sinh...là môi trường tốt cho nấm mốc và các vi khuẩn, virut phát triển khiến bạn có thể bị viêm mũi, xoang, họng, viêm phế quản... Theo đó mỡi ngày bạn nên mở cử phòng thật to cho thông thoáng, lau dọn nhà cử thường xuyên

Vệ sinh cá nhân sạch sẽ

Giữ vệ sinh cơ thể luôn sạch sẽ cũng là một trong những bí quyết bảo vệ sức khỏe hữu hiệu cho cả người lớn lẫn trẻ em, giúp ngăn ngừa nhiều căn bệnh viêm nhiễm thông thường. Theo đó, chúng ta cần giữ ấm cho cơ thể khi thời tiết chuyển mùa, trời đổ mưa, lạnh đột ngột; mang khẩu trang khi đi đường và khi làm việc trong các môi trường có nhiều bụi và khí thải độc hại; hạn chế đi bơi hoặc tắm tại các hồ bơi và nguồn nước bị nhiễm bẩn; luôn rửa tay sạch bằng xà phòng giúp hạn chế cảm cúm, lây nhiễm siêu vi hô hấp.

Tránh những cơn mưa bất chợt và ra ngoài khi trời mưa

Hãy nhớ mang theo dù hoặc áo mưa bên mình khi đi ra ngoài và cố gắng giữ cho cơ thể không bị ướt mưa để đề phòng tình trạng nhiễm lạnh. Trong trường hợp đã lỡ bị mắc mưa, bạn nên tắm nước ấm ngay khi về đến nhà nhằm vệ sinh cơ thể, ngăn ngừa tình trạng nhiễm khuẩn.